Cách năm mấy chục năm khi viết cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (bình chú), phần nạp
âm tôi cho rằng liên quan đến Khoa Tử Bình nhiều hơn. Nhưng sau khi được học hỏi
nghiên cứu thêm, và hiểu được ảnh hưởng của nạp âm với lá số Tử Vi như thế nào?
Căn cứ vào một số sách vở của Trung Quốc thì nạp âm ảnh hưởng vào tính số bằng
cách lấy ngay nạp âm của năm sinh để phối hợp tính với Mệnh cung. Tỉ dụ Mệnh cung có
những sao hay cách cục nói lên con người hung bạo mà nạp âm cũng hung bạo thì tính
hung bạo của người ấy tăng gấp bội. Nếu các sao Mệnh cung hay cách cục là con người
Ý NGHĨA CỦA MỖI NẠP ÂM
Mỗi hành có sáu tượng, như Kim gồm có: Hải Trung Kim, Kim Bá Kim, Bạch Lạp Kim,
Sa Trung Kim, Kiếm Phong Kim, và Thoa Xuyến Kim bằng một tên gọi khác là nạp âm.
KIM
HẢI TRUNG KIM
“Bác Vật Vựng Biên” viết rằng: Giáp Tí Ất Sửu thì Tí thuộc thủy, nơi hồ ao thủy vượng.
Trong khi Kim “tử” ở Tí, mộ ở Sửu chỗ thủy vượng, kim vào thế “tử mộ” nên mới gọi bằng
Hải Trung Kim ví như kim trong lòng biển, khí thế bị bao tàng, có danh mà vô hình, có tiếng
gọi mà không có thực, an tàng trong lòng biển như thai nhi nằm trong bụng mẹ.
Tính chất của Hải Trung Kim là:
a. Có thể biết được tâm tưởng mà không hiểu rõ được tâm cơ, lòng người như biển
khôn dò, nếu cung Mệnh có những sao thủ đoạn điên đảo mà lại ở nạp âm Hải Trung
Kim nữa thì quyền thuật kể vào bậc cự phách
b. Khả năng tốt nhưng thiếu sức xông xáo, tranh cướp phải nhờ người đề bạt mới thi
triển được, nếu cung bản mệnh thấy nhiều sao do dự nhút nhát mà mệnh lại rơi vào
nạp âm Hải Trung Kim thì càng do dự nhút nhát hơn. Số nữ Hải Trung Kim đối với
tình yêu ít bộc lộ, gói kín trong lòng.
Trước nghịch cảnh, vào phấn đấu Giáp Tí mạnh hơn Ất Sửu, Ất Sửu dễ có khuynh
hướng hư nhược.
KIM BÁ KIM
Nhâm Dần Ất Mão thì Dần Mão là đất vượng của Mộc, Mộc vượng nên Kim suy, Kim
Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão, Kim vô lực mới gọi bằng Kim Bá Kim. Mộc vượng Kim suy nên
sức yếu, mỏng manh nhợt nhòa, chữ bá nghĩa là yếu đuối, không sung thực.
Cổ thư viết: “Nhâm Dần Quí Mão là chất kim còn lại ở đất tuyệt cho nên khí chất nhu
nhược, mỏng như tơ lụa”. Kim Bá Kim chất kim dùng để trang trí trang sức. Nếu được tay
được khéo giỏi chạm khắc thì mới hay đẹp.
Người có số mạng nạp âm Kim Bá Kim cần mài dũa học hành mới mong thành tựu,
phải tìm được thầy mới nên cơ đồ. Bởi vậy Kim Bá Kim cần Xương Khúc Hóa Khoa ở
Mệnh.
Nhâm Dần thì Dần Mộc bị kim khắc nên thế nhược, tinh thần tuy vượng thịnh nhưng là
thứ vượng thịnh của dây cung quá căng bởi vậy khi ứng phó với hung vận không lì bằng
Quí Mão.
Quí Mão cũng như Nhâm Dần Mộc bị Kim khắc, nhưng âm Mộc sức khắc chế chỉ có
hạn trong khi chủ kiến tự mình lại mạnh, nên chống với hung vận đắc lực hơn.
BẠCH LẠP KIM
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển viết:
“Chất Kim của Canh Thìn và Tân Tỵ, dưỡng ở Thìn, sinh ở Tỵ hình chất mới thành,
chưa cứng cáp nên gọi bằng Bạch Lạp Kim”
Bạch LạpKim ví như chất ngọc chưa mài giũa. Tinh thần sảng trực tinh khiết mà thiếu
tâm cơ. Người mang số Bạch Lạp Kim có hai con đường để lập thân:
a. Học ngành chuyên môn, tập trung vào ngành ấy mà nên công
b. Bươn trải kinh lịch cho thật nhiều như ngọc được mài giũa tinh luyện cuối cùng khi
gặp vận để mà hành xử
Dù Mệnh có những sao tốt mà vận không bươn trải, hoặc không chuyên nghiệp thì sự
nghiệp chẳng có bao nhiêu. Canh Thìn thì Thìn là thổ chất khả dĩ sinh kim, trong khi Tân Tỵ
thì Tỵ là hỏa làm tan chất kim. Canh Thìn sảng trực tâm ý trung kiên hơn, Tân Tỵ mưu
chước lươn lẹo.
SA TRUNG KIM
Giáp Ngọ, Ất Mùi thì Ngọ là chỗ hỏa vượng, hoả vượng thì kim bại; Mùi là chỗ hỏa suy,
hỏa tuy suy nhưng kim cũng đã cùn nhược. Gọi bằng Sa Trung Kim, Kim không đủ cứng
cáp để chém, để đẩy cho nên người Sa Trung Kim thường làm việc một cách đầu voi đuôi
chuột. Mệnh cung mà thêm sao Thiên Đồng hãm nữa thì càng vớ vẩn.
Sa Trung Kim cần liên tục theo đuổi mục đích nào đó, nói khác đi là ngoan cố đeo đẳng
mới đạt tới được. Giáp Ngọ thì Ngọ hỏa khắc kim tước giảm khí thế, trong khi Ất Mùi thì
Mùi thổ sinh kim. Ất Mùi đương đầu với gian nan uyển chuyển hơn Giáp Ngọ.
KIẾM PHONG KIM
Bác Vật Vựng Biên chép rằng: Nhâm Thân Quí Dậu thì Dậu là chính vị của Kim vị trí
của Lâm Quan và Đế Vượng, nên Kim già cứng cương mãnh ví như mũi nhọn của lưỡi
gươm nên gọi bằng Kiếm Phong Kim. Nhâm Thân Quí Dậu khí thế cực thịnh.
Người Kiếm Phong Kim tự hiển tài năng mình, hành động tư tưởng sắc bén. Hồng
quang tỏa chiếu tới sao Đẩu sao Ngưu, ánh sáng rõ ràng như sương tuyết. Có ý chí cao
lớn, tâm tính tàn khốc cương nghị và tinh nhuệ.
Những sao tốt hội vào Mệnh thuộc nạp âm Kiếm Phong Kim càng tốt hơn nhất là
những số thuộc binh nghiệp hay chính trị. Ngược lại Mệnh cung nhiều sao xấu gây hung
họa thì Kiếm Phong Kim càng tạo hung họa, trên tính tình tư tưởng là người khó mà lay
chuyển.
Nhâm Thân, Quí Dậu cả hai chi đều thuộc Kim nên đều cương cường đối phó với
hung vận bằng khả năng phấn đấu hay chịu đựng ngang nhau.
THOA XUYẾN KIM
Cổ thư viết: “Kim của Canh Tuất, Tân Hợi đến Tuất thì Suy, qua Hợi thành Bệnh. Kim
mà ở vào cái thế Suy Bệnh tất nhiên nhuyễn nhược nên gọi Thoa Xuyến Kim. Thoa là cái
trâm cho phụ nữ gài đầu. Xuyến là cái vòng đeo ở cổ tay con gái. Thành đồ dùng của phụ
nhân, tính cương mãnh của Kim bị nhuyễn nhược. Bởi vậy Kim của Tuất Hợi trở nên ẩn
tàng, hình thể vỡ vụn. Khi vào chiếc hộp chốn phòng khuê, công dụng của Kim chấm dứt
nên gọi bằng Thoa Xuyến Kim.
Người Thoa Xuyến Kim nếu số mà có Nhật Nguyệt Xương Khúc, Đào Hoa, Lương,
Khoa thường đẹp đẽ bội phần bất cứ trai hay gái. Người Thoa Xuyến Kim mà Mệnh sinh
âm trầm càng âm trầm hơn, có tài thường dấu kín trong lòng. Người Thoa Xuyến Kim mà
Mệnh ưa khoe khoang nhiều thì lòng ham muốn hư vinh càng nặng.
Cái số hay nhất với Thoa Xuyến Kim là sống cậy vào nữ phái. Có vợ giàu, thường giao
thiệp với đàn bà con gái (buôn bán nữ trang, quần áo vẽ kiểu thời trang). Số làm chính trị
mà Thoa Xuyến Kim thường chỉ là đồ trang sức cho chính trị.
THỦY
Hành thủy có sáu nạp âm: Giản Hạ Thủy, Đại Khê Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền
Thủy, Đại Hải Thủy.
GIẢN HẠ THỦY
Bác Vật Vựng Biên ghi rằng: Thủy của Bính Tí, Đinh Sửu thì vượng ở Tí, suy ở Sửu.
Vượng rồi Suy ngay tất nhiên không thể thành sông ngòi, cho nên gọi bằng Giàn Hạ Thủy
Giản Hạ Thủy là dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng
nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc nông lúc sâu.
Cồ nhân có câu: “Dục tấn dục thoái sơn khê thủy, Dục phản dục phúc tiểu nhân tâm”
Nghĩa là lúc tiến lúc lui như nước lạch, lúc phản phúc lúc lật như lòng tiểu nhân.
Số ai có Phục Binh hay Phá Quân Địa Kiếp hoặc Tử Phá hoặc Linh Hỏa hãm địa mà
thêm nạp âm Giản Hạ Thủy nữa thì cái lòng phản phúc lật lọng càng ghê gớm. Đứng ngôi
chủ như vậy bộ hạ hãy lo giữ đầu, đứng vai thần tử mà như vậy kẻ đứng chủ chỉ việc chờ
ngày bị phản.
Tâm chất thâm hiểm, tình ý nhỏ nhen nhưng rất thực tế và sắc bén. Trường hợp số
bình thường ắt nhu nhược bất quyết mà thêm Giản Hạ Thủy nạp âm nữa thì hoàn toàn vô
tích sự, lúng túng, hoảng loạn trước công việc.
Giữa Bính Tí và Đinh Sửu thì Bính Tí nguy hiểm hơn Đinh Sửu thổ khắc thủy khiến cho
nhuệ khí bị tước giảm
ĐẠI KHÊ THỦY
Cổ thư biên: “Giáp Dần Ất Mão thì Dần là ranh giới Đông Bắc, Mão là chính đi về một
hướng nên gọi bằng Đại Khê Thủy”
Đại Khê là dòng suối lớn, thác nước tung hoành trong rừng núi khác hẳn Giản Hạ Thủy
là lạch nhỏ suối con. Bởi thế Đại Khê Thủy thủy khí lượng lớn, biến hóa đến mức gây sợ
hãi, tuy không ngấm ngầm nhưng tâm cơ sâu rộng lan tràn ngập lụt.
Tuy nhiên lại không được xem như sông ngòi. Thác lũ khi gặp lòng sâu, hoặc hang hốc
cũng chảy thành dòng, lấp đầy thành vũng. Bởi thế đôi khi bụng dạ hẹp hòi và tư tâm.
Người nạp âm Đại Khê Thủy nếu là một chiến lược gia tất có cái nhìn rộng rãi bao
quát. Nếu Mệnh kém mà nạp âm Đại Khê Thủy lại trở nên con người mơ mộng ước vọng,
hoài bão to tát mà thiếu khả năng hành động, vô dụng.
Giáp Dần Ất Mão hai chi đều thuộc Mộc, đều vững mạnh trước hung vận, nhưng Ất
Mão ý nhị hơn, mềm dẻo hơn vì cả Ất lẫn Mão đều là âm mộc.
TRƯỜNG LƯU THỦY
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điền chép: “Nhâm Thìn Quí Tỵ, Thìn là thủy khố mà Tỵ
là Trường Sinh của kim, kim sinh thủy vượng. Đã vượng mà còn chứa vào kho nước không
bao giờ hết nên gọi bằng Trường Lưu Thủy.
Trường mang nghĩa vĩnh cửu, Lưu mang nghĩa chuyển động không ngừng, cuồn cuộn
vô cùng, thao thao bất tuyệt. Tham vọng to tát nhưng tư tâm không nhiều. Nếu như số là
con người giỏi giang có thể giao việc mà không sợ phản bội.
Trường Lưu Thủy có một khuyết điểm: chỉ chú trọng đại cuộc mà quên mất tiểu tiết, đôi
khi do sơ sót mà hỏng việc. Mệnh xấu nạp âm Trường Lưu Thủy là người không có cơ sự
nghiệp nhưng biết lo xa cũng ấm thân.
Nhâm Thìn Quí Tỵ Thìn thuộc thổ khắc thủy, Tỵ thuộc hỏa bị thủy khắc, đứng trước
khó khăn của hung vận Nhâm Thìn vững vàng hơn Quí Tỵ.
THIÊN HÀ THỦY
Cổ thư chép: “Bính Ngọ Đinh Mùi, Bính Đinh Hỏa, Ngọ nơi chốn Hỏa vượng mà nạp
âm lại là thủy từ hỏa xuất thì phải từ trên trời xuống nên gọi bằng Thiên Hà Thủy.
Bính Ngọ Đinh Mùi đều là chỗ hỏa vượng mà sinh ra thuỷ, thủy từ hỏa xuất thì chỉ có
từ trên trời xuống. Thiên Hà Thủy đổ xuống khắp mọi nơi trên trái đất đó là mưa. Vạn vật
đều nhờ mưa mà tươi tốt màu mỡ. Tình yêu thương chan hoà. Nhưng mưa có mưa nhỏ
mưa to, mưa xuân mưa hạ, mưa giông mưa bão. Không phải mưa nào cũng hữu ích cho
bàn dân thiên hạ. Cần mưa nhỏ mà lại mưa lớn, cần mưa lớn mà chỉ lâm râm, mưa như
thế kể bằng vô ích.
Người có Mệnh hợp với Thiên Hà Thủy cần phải thêm trí tuệ mới hay. Thiên Hà Thủy
làm việc xã hội, làm việc tôn giáo hợp cách.
Đứng ngôi chủ vào thời bình mà không nắm quyền sinh sát, dân gian được nhờ. Mệnh
nhiều sát tinh, hung tinh mà Thiên Hà Thủy thành ra mâu thuẩn khó thành công trên kinh
doanh hay chính trị quân sự.
Bính Ngọ can chi hỏa đều bị thủy khắc, Đinh Mùi thì chỉ Mùi thuộc thổ khắc thủy nên
ứng phó với hung vận linh hoạt hơn Bính Ngọ.
TỈNH TUYỀN THỦY
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển chép: “Giáp Thân Ất Dậu thì Thân là Lâm Quan,
Dậu là Đế Vượng. Kim vượng tất nhiên thủy cũng nhờ thế mà sinh tuy nhiên thủy ở tình
trạng này chưa hùng dũng lớn mạnh cho nên gọi bằng Tỉnh Tuyền Thủy.
Tỉnh Tuyền Thủy (nước giếng) không có gốc nguồn rõ rệt. Ở dưới sâu khơi lên từ lòng
đất nên tư tưởng thâm thúy, hành động ẩn mật. Giếng tốt, nước lấy chẳng bao giờ cạn, bởi
vậy đức vọng của người Tỉnh Tuyền Thủy vô cùng.
Người xưa giảng rằng: “Nước giếng từ suối lạnh nên trong và lạnh, lấy mãi không hết,
mọi người đều uống, trăm nhà dùng nước giếng mà sống”. Trong là tinh khiết hay liêm
khiết, lạnh là thiếu nhiệt tâm đối với người.
Tỉnh Tuyền Thủy không bao giờ tự phát, phải dựa vào thời thế, dựa vào thời cơ đi theo
thôi mà không mở đầu. Người có nạp âm Tỉnh Tuyền Thủy theo ngành tình báo gián điệp
hợp cách nếu như mệnh cung có những sao hợp với Tỉnh Tuyền Thủy.
Giáp Thân Ất Dậu đều là Tỉnh Tuyền Thủy. Thân Dậu cả hai đều thuộc kim, kim sinh
thủy bản thân mất nguyên khí, sau tuổi trung niên sức phấn đấu suy vi.
ĐẠI HẢI THỦY
Cổ thư chép: “Nhâm Tuất Quí Hợi thủy, Quan Đới ở Tuất, Lâm Quan tại Hợi lực lượng
hùng hậu. Hợi ví như dòng sông lớn nên gọi bằng Đại Hải Thủy.
Nước của Đại Hải Thủy diện tích quảng khoát, thế tượng bao la, xung kích lực mạnh,
làm thiện hay làm ác đều dữ dội. Hoặc là gian hùng của thời đại, hoặc là anh hùng cái thế.
Người xưa giảng rằng: “Nước Đại Hải Thủy thâu gồm trăm sông chảy miên man về
biển cả, bao quát tính thăng trầm của đất trời, thâu tóm ánh sáng của nhật nguyệt. Nguồn
của Đại Hải Thủy có trong có đục. Nhâm Tuất chứa thổ khí nên đục, Quí Hợi toàn thủy nên
trong. Nếu mệnh đáng bậc chính nhân thì khi ở ngôi vị thường bao dung đại lượng ưa làm
điều thiện không ưa điều ác, ngược lại mệnh tầm thường hạ tiện sẽ thành con người lấy
oán mà trả ân, tâm địa hẹp hòi như hai dòng nước trong đục vậy.
Nhâm Thủy Quí Hợi đều là Đại Hải Thủy, có điều Tuất thổ khiến cho Đại Hải Thủy chảy
thành dòng như lòng sông, đầu óc sáng suốt cử chỉ minh bạch thiện ác phân minh.
Quí Thủy là chính vị, thủy vượng cực chảy tràn lan không bờ bến nên tâm chất khó
hiểu, muốn đề phòng cũng khó mà đề phòng nổi, thiện ác không rõ rệt. Quí Hợi mà có
những sao ở Mệnh mang khuynh hướng làm chính trị sẽ là người ứng phó với những biến
động lớn rất giỏi, lúc lâm nguy thì quyền biến.
MỘC
Hành Mộc có sáu nạp âm chia thành: Tang Đố Mộc, Tùng Bách Mộc, Đại Lâm Mộc,
Dương Liễu Mộc, Thạch Lựu Mộc, Bình Địa Mộc.
TANG ĐỐ MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Nhâm Tí, Quí Sửu thì Tí thuộc thủy, Sửu thuộc kim.
Thủy vừa sinh mộc, kim đã phạt mộc như hình tượng của cây dâu vừa trổ lá non đã bị hái
xuống mà nuôi tằm.
Lá dâu tằm ăn, thân dâu làm cung dùng vào nhiều việc. Từ chiếc lá đến cành đến thân
đều bị sử dụng cho nên Tang Đố Mộc hoàn toàn bị động, tâm tình rộng rãi, nhưng cái rộng
rãi do người điều khiển. . Khi có tiền, lúc thành công thường bị đẩy vào tình trạng giúp
người này đỡ kẻ nọ từ anh em đến họ hàng bè bạn.
Người Tang Đố Mộc không thể ở ngôi vị lãnh đạo. Mệnh tốt mà cho điều khiển công
việc xã hội hợp cách. Quí Sửu so với Nhâm Tí bản thân bị tước giảm nguyên khí nên gặp
hung vận kém khả năng ứng phó.
TÙNG BÁCH MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Canh Dần, Tân Mão mộc, lâm quan tại Dần, đế vượng
tại mão, mộc đến hồi cực thịnh nên gọi bằng Tùng Bách Mộc.
Tùng Bách Mộc trong sương tuyết mà vẫn cứng cỏi vươn lên xanh tươi, vừa kiên nhẫn
chịu đựng vừa đầy ắp nghị lực chống với khí hậu ác liệt. Kiên định, dù thử thách nào cũng
không bị bẽ gãy. Ý chí luôn luôn muốn vượt thiên hạ và kỷ luật ngay cả đối với bản thân.
Mệnh tốt, người Tùng Bách Mộc sẽ thành công khác người trên bất cứ lĩnh vực nào.
Mệnh xấu luôn luôn thành kẻ bất đắc chí. Tân Mão nhẫn nại hơn Canh Dần, Canh Dần
cương nghị hơn Tân Mão.
ĐẠI LÂM MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Mậu Thìn Kỷ Tỵ, Thìn là giải bình nguyên rộng lớn, Tỵ
là ánh thái dương chói chang tạo thành cây cối phồn vinh như rừng nên gọi bằng Đại Lâm
Mộc. Cây trong rừng um tùm, rậm rạp khắp nơi một màu xanh nên tâm chất không mưu
cầu đột xuất.
Trí tuệ minh mẫn với sự ngả theo thời thế, làm chức thừa hành tốt, vào cương vị chỉ
huy không hay. Khả năng cũng như khuynh hướng không có màu sắc riêng của mình
Số Mậu Thìn với Kỷ Tỵ, thì Mậu Thìn đều thuộc thổ, mộc khắc thổ làm nhược khí thế,
trong khi Kỷ Tỵ thì Tỵ hỏa. Bởi vậy Kỷ Tỵ trong cuộc phấn đấu chống với hung vận dễ dàng
hơn Mậu Thìn.
DƯƠNG LIỄU MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Nhâm Ngọ Quí Mùi, mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi. Mộc vào
đất tử mộ dù được Nhâm Quí thủy sinh cũng vẫn yếu nhược nên gọi bằng Dương Liễu
Mộc. Cành liễu mảnh mai, lá liễu buông rũ, thứ mộc không có cốt khí. Hình chất thì vậy
nhưng tâm sự lại rất thấu đáo, tình cảm phức tạp đa đoan.
Dương Liễu Mộc thuộc âm nên tính tình kín đáo, chỉ thiếu căn bản suy tư luôn luôn
theo gió mà ngả nghiêng. Bén nhậy với thực tế, tâm không mấy chính trực. Dương Liễu
Mộc khó là một người tâm phúc trung thành.
Nhâm Ngọ vì Ngọ là hỏa, mộc sinh hỏa cho nên mệnh vượng cứng rắn hơn Quí Mùi
thổ bị mộc khắc
THẠCH LỰU MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: “Canh Thân Tân Dậu, Thân là tháng bảy, Dậu là tháng
tám, thời gian này mộc suy yếu cơ hồ tuyệt diệt chỉ có cây lựu kết trái cho nên gọi bằng
Thạch Lựu Mộc.
Kim khắc Mộc, Kim như đao búa, thạch lựu mộc cứng cáp, đao búa không thể đốn
ngã. Canh Thân Tân Dậu cả chi can đều thuộc kim thế mà nạp âm thành mộc, lấy cái lẽ
tương khắc chống chọi mà thủ tượng vậy. Hình mộc mà chất đá nên gọi thạch lựu. Mệnh
mang những sao trung kiên là một trung thành ánh ánh, là một người bạn khả dĩ tin cậy.
Mệnh mang những sao gan dạ nên con người can trường dám làm dám chịu. Mệnh
hiện những sao thiếu trí tuệ thành ra con người ngoan cố khó mà cảm hóa.
Canh Thân Tân Dậu, mộc hoàn toàn bị kim chế ngự nên ít có khả năng bén nhạy với
biến động. Người Thạch Lựu Mộc vào nghiên cứu là hợp cách vì ít thay đổi chí hướng.
BÌNH ĐỊA MỘC
Sách Bác Vật Vựng Biên biên chép: “Mậu Tuất Kỷ Hợi thì Tuất là cánh đồng, Hợi là nơi
cây cỏ sinh được. Tuất Hợi lúc mộc khí qui căn, âm dương bế tắc như mùa đông cành lá
trơ trụi mà gốc rễ ẩn tàng để nảy nở.
Người Bình Địa Mộc mà mệnh tài cán thì cái tài thường ẩn không hiện, nếu được dùng
ví như cơn mưa thuận gió hòa, ở thời loạn ví như bị sương tuyết dập vùi hoài tài bất ngộ.
Bình Địa Mộc cần gặp quí nhân cần người biết dùng, được sử dụng đúng sẽ làm việc đắc
lực. Bình Địa Mộc trông vẻ ngoài không bề thế lẫm liệt nhưng bên trong chứa chất tài năng
đáng nể. Bình Địa Mộc mà mệnh bình thường sẽ mãi mãi bình thường dù được vận hay.
Mậu Tuất toàn thổ, thổ bị mộc khắc, Kỷ Hợi, Hợi sinh mộc bởi thế Kỷ Hợi làm việc mẫn
cán hơn Mậu Tuất.
HỎA
Hành Hỏa có sáu nạp âm chia như sau: Tích Lịch Hỏa, Lô Trung Hỏa, Phú Đăng Hỏa,
Thiên Thượng Hỏa, Sơn Hà Hỏa, Sơn Đầu Hỏa.
TÍCH LỊCH HỎA
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: “Mậu Tý, Kỷ Sửu, Sửu thuộc Thổ, Tý thuộc Thủy, Thủy
ở chính vị mà nạp âm lại là Hỏa, nếu không phải thần long tất nhiên Thủy không biến ra
Hỏa được, cho nên gọi bằng Tích Lịch Hỏa như tia lửa từ sấm chớp tức Thủy trung chi
Hỏa”.
Tích Lịch Hỏa lẫm liệt như tiếng sấm vang, nhanh tựa tia điện. Người Tích Lịch Hỏa
mệnh nhiều sao tốt sự nghiệp cơ nghiệp thành công hơn người, thích làm việc to tát, càng
loạn lạc càng xáo trộn khả năng càng phát triển.
Người Tích Lịch Hỏa mà mệnh cung tầm thường chuộng hư danh thích nổi trôi dễ bị
xúi giục làm những việc xuẩn ngốc như kiểu ôm bom ba càng nằm chắn xe tăng.
Người Tích Lịch Hỏa ưa vào cờ bạc thường bị bịp làm những chuyện bất ngờ, tâm ý
nhiệt thành không giảo quyệt, luôn luôn ngăn nắp và kỷ luật.
LÔ TRUNG HỎA
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: “Bính Dần, Đinh Mão, Dần là Tam dương, Mão là Tứ
dương, Hỏa được đất lại có Dần Mão Mộc trợ lực, trời đất lúc ấy như lò lửa và vạn vật nảy
sinh, nên gọi bằng Lô Trung Hỏa”.
Bính Dần Đinh Mão, khí thế phát huy nhờ chất đốt mà hiển minh, âm dương còn lẫn,
thiên địa chung một lò lửa. Lửa dung hóa tất cả từ âm dương đến sáng tối cả trời lẫn đất
nói chung là vạn vật trong vũ trụ. Dùng Hỏa để cải tạo vạn vật.
Có câu: “Lô Trung Hỏa giả, thiên địa vi lô, âm dương vi thán, quang huy ưu vũ trụ, đào
dã ưu càn khôn” (Lửa trong lò vũ trụ, trời đất, âm dương, càn khôn đều được đào luyện).
Người Lô Trung Hỏa có mệnh lớn, tâm tưởng bao la, lúc đắc thế khả dĩ hiển hiện tài
hoa danh tiếng với đời. Lô Trung Hỏa mang một khuyết điểm nếu mệnh kèm theo những
hung sát tinh hãm dễ thành kiêu căng ngạo mạn, dễ bị nghe theo lời nịnh hót mà thất bại.
Bính Dần Đinh Mão hai hàng chi đều thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa tước nhược gặp hung
vận thiếu trầm tĩnh giải quyết công việc.
PHÚ ĐĂNG HỎA
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: “Giáp Thìn, Ất Tỵ, Tỵ là độ gốc lúc mặt trời lên đến đỉnh
và sắp lẫn về Tây. Ánh chiều tà còn tung ra chiếu sáng vạn vật. Đồng thời cũng là lúc thiên
hạ sửa soạn lên đèn. Phú Đăng Hỏa là ánh lửa ban đêm khả dĩ chiếu sáng những nơi mà
mặt trời mặt trăng không chiếu tới được, gọi khác đi bằng “Địa minh chi hỏa”.
Giữa ban ngày, ánh lửa đèn không thể thi triển quang huy. Bởi vậy, người mang nạp
âm Phú Đăng Hỏa hay “dạ minh chi hỏa” thường thích bóng tối không thích xuất đầu lộ
diện, nhưng lại rất tài hoa, lúc cần đến thật được việc. Lúc bình thường, lúc chưa đắc thế
sống âm thầm ẩn nặc. Khi gặp thời cơ như ánh đèn soi vào bóng tối.
Giáp Thìn thì Thìn thuộc Thổ, Hỏa sinh Thổ tính chất cương mãnh hơn, trong khi Ất Tỵ
thì Tỵ là Hỏa đồng tính với Hỏa, sức mạnh không bằng Giáp Thìn. Sức mạnh ở đây nói về
khí chất tinh thần để ứng phó với hung vận.
THIÊN THƯỢNG HỎA
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Mậu Ngọ Kỷ Mùi, Ngọ là nơi Hỏa Vượng,
Mộc ở trong chi Mùi lại sinh Hỏa. Hỏa khi bung lên gặp đất sinh nên gọi bằng “Thiên
Thượng Hỏa”.
Thiên Thượng Hỏa là lửa trên trời. Mậu Ngọ là mặt trời, Kỷ Mùi là mặt trăng sưởi ấm
sông núi, chiếu sáng vũ trụ chan hòa mọi chỗ không thiên vị. Bởi vậy Thiên Thượng Hỏa
rất công bình, chính trực hào sảng khai hoài.
Số nạp âm Thiên Thượng Hỏa mà có nhiều cát tinh tại mệnh đứng ngôi chủ vào thời
bình, bàn dân thiên hạ được nhờ. Nhưng Thiên Thượng Hỏa mà tuổi Kỷ Mùi là mặt trăng
tính chất nhu hòa, lắm khi lại lạnh nhạt và vô tình đứng ngôi chủ, các cận thần phải coi
chừng, đặc biệt nếu mệnh cung mang những sao thủ đoạn mưu chước. Thiên Thượng Hỏa
dù Mậu Ngọ hay Kỷ Mùi thẩy đều ưa danh vị tiếng tăm.
SƠN HẠ HỎA
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Bính Thân Đinh Dậu. Thân là cửa của đất,
Dậu là cổng của mặt trời lặn. Ánh dương quang đến chỗ này thì ẩn tàng nên gọi bằng Sơn
Hạ Hỏa”.
Bính Thân Đinh Dậu, khí tắt hình tàng như mặt trời lặn phía Tây, sức đã yếu nhược,
càng tối càng hiu hắt vàng vọt. Sơn Hạ Hỏa tâm chất hẹp hòi, tự tư tự lợi, mưu lược không
đủ, nhưng vẻ ngoài lại vênh vang, lúc nào cũng lý luận.
Nạp âm Sơn Hạ Hỏa số xấu hay tốt cũng không nên dùng làm tâm phúc, không bao
giờ là người cộng sự chân thành. Thân Dậu Kim đều bị Hỏa khắc nên thường rối ren trước
biến động hay hung vận.
SƠN ĐẦU HỎA
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Giáp Tuất Ất Hợi thì Tuất Hợi là cửa
trời, hỏa chiếu thiên môn, quang huy cực cao”
Sơn Đầu Hỏa chỉ thấy sáng rực mà không thấy lửa nên tâm cơ thâm trầm, ít ai hiểu,
vui giận không lộ ra sắc diện, tài trí cao mà không cho người thấy được. Thành công tấn
tốc như đám cháy rừng khi gặp vận.
Người Sơn Đầu Hỏa lúc gặp thời thâm trầm làm việc không biết mệt. Gặp thời rồi cũng
không lãng phí thời gian. Mệnh tốt danh vọng sự nghiệp hơn người. Mệnh xấu cũng đắc
lực nhanh nhẹn để phục vụ thừa hành.
Giáp Tuất, Tuất là Thổ được Hỏa sinh. Ất Hợi, Hợi là Thủy bị Hỏa khắc. Giáp Tuất ứng
phó với hung vận biến động linh động hơn Ất Hợi.
THỔ
Hành Thổ có 6 nạp âm: Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ, Sa Trung Thổ, Lộ Bàng
Thổ, Đại Dịch Thổ, Ốc Thượng Thổ.
BÍCH THƯỢNG THỔ
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Canh Tý Tân Sửu thì Sửu là chính vị
của Thổ, mà Tý là đất vượng của Thủy, Thổ gặp Thủy biến thành bùn cho nên gọi bằng
Bích Thượng Thổ”.
Bùn nhuyễn mềm muốn trát thành vách phải tựa vào kèo cột phên, thiếu chỗ tựa khó
thành vánh tường. Bởi thế, người mang nạp âm Bích Thượng Thổ phải tựa vào người mà
thành sự, làm quản lý, làm kẻ thừa hành tốt, đứng ngôi chủ dễ thất bại. Tuy nhiên cũng có
những loại đất chất dính mạnh phơi nắng trở thành cứng cáp không phải dựa vào kèo cột
cũng đứng vững được. Bởi thế, người mang nạp âm Bích Thượng Thổ cần phải trải nhiều
kinh lịch mới hay.
Vách để che gió, chắn mưa cho nên tâm chất thường bao dong. Mệnh nhiều hung sát
đa nghi thủ đoạn mà mang nạp âm Bích Thượng Thổ dễ đưa đến sơ hở mà bị hại. Canh
Tý, Tý Thủy bị Thổ khắc, khí thế nhược. Tân Sửu, Thổ vào chính vị sức đề kháng cương
mãnh.
THÀNH ĐẦU THỔ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Mậu Dần Kỷ Mão là 2 Thiên Can đều là Thổ.
Dần thuộc cấn sơn, thổ tích thành núi cho nên gọi là “Thành Đầu Thổ”.
Quẻ Cấn, Kinh dịch giải thích là núi (Cấn vi sơn). Mạng nạp âm Thành Đầu Thổ tính
tình trung trực chất phác, thích giúp người, trung thành nếu như mệnh số bình thường.
Mệnh số hội tụ cách cục tốt thì khí thế khác hẳn, núi chính là nơi của rồng ấp, cọp ở.
Người này mang chí lớn với tâm chất sảng trực xem thành bại làm thường tình. Thời loạn
cũng như lúc bình đều có thể dùng vào vai trò lãnh đạo gây cơ dựng nghiệp theo chiều
hướng thiện.
Mậu Dần Kỷ Mão thì Dần Mão đều thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ cho nên ở bình thời dễ
nên công hơn loạn thế.
SA TRUNG THỔ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Bính Thìn Đinh Tỵ, Thìn khố Tỵ tuyệt, Thiên
can Bính Đinh đều thuộc Hỏa. Thổ vào tuyệt địa, đến chổ ẩn tàng (khố) lại được hỏa sinh
cho nên gọi bằng Sa Trung Thổ”.
Thổ tới khố không phải cát của sa mạc mà là cát của đất phù sa vì Thìn thuộc Thủy
khố. Gặp sông nước đẩy đưa tập trung tài bồi thành bãi thành bờ nhiều mầu mỡ.
Sa Trung Thổ tùy sóng, tùy gió nên tính chất uyển chuyển, giỏi đầu cơ, lợi dụng thời
thế. Khả năng 2 mặt thiện ác - khi là rồng lúc thành rắn. Anh hùng và gian hùng.
Bính Thìn, Thìn thuộc Thổ chính vị cho nên cứng rắn hơn. Đinh Tỵ, Tỵ thuộc Hỏa tiết
thân mà sinh Thổ nên nguyên khí giảm không kiên trì bằng Bính Thìn.
LỘ BÀNG THỔ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: “Canh Ngọ Tân Mùi, mộc trong Mùi sinh Hỏa
của Ngọ. Hỏa vượng tạo hình cho Thổ, Thổ mới sinh chưa đủ sức để nuôi dưỡng vạn vật
nên gọi bằng “Lộ Bàng Thổ”.
Hỏa vượng, Thổ thành hình, đất cứng bởi vậy tâm chất quật cường mà quá nóng nảy,
tâm tình chính trực nhưng lại không chín chắn để phân biệt cho rõ ràng thiện ác thuận lợi
hay không thuận lợi.
Lộ Bàng Thổ đất rộng, trải dài miên viễn cần có Thủy cho đất hết khô để cây cỏ mọc.
Lộ Bàng Thổ vào nghiên cứu, học vấn sẽ như chất Thủy tưới cho Thổ trở nên hữu dụng.
Lộ Bàng Thổ thiếu khả năng làm con người hành động để xoay chuyển thời thế nên
đứng vị thế một lý thuyết gia hay hơn. Canh Ngọ, Ngọ thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ làm mất
nguyên khí sức đề kháng hung vận không bằng Tân Mùi, vì Mùi ở vào chính vị Thổ nên
nhẫn nại kiên trì hơn.
ĐẠI DỊCH THỔ
Sách Bác Vật Vựng Biên nói: “Mậu Thân Kỷ Dậu thì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu
thuộc Đoài là đầm nước (trạch). Chữ dịch có một nửa chữ trạch, thật ra phải gọi bằng trạch
thổ.
Khôn là đất. Trạch là chỗ hồ ao đầm vũng có nước. Sông đem nước đi khắp nơi, đầm
ao là chổ cá sinh sống thoải mái mầu mỡ tích súc. Đại Dịch Thổ tự nó tích súc, đất rộng
sông sâu.
Mệnh tốt mà nạp âm Đại Dịch Thổ thường làm được công lớn ích lợi cho thiên hạ.
Mệnh thường, phụ giúp các việc thiện luôn luôn có thành tâm.
Mệnh nhiều hung sát mà cho cáng đáng những công tác nhân đạo chỉ đưa đến hỏng
việc. Thân Dậu đều thuộc Kim, Thổ sinh Kim nên Mậu Thân hay Kỷ Dậu đều có khả năng
kiên trì ít bối rối.
ỐC THƯỢNG THỔ
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: “Bính Tuất Đinh Hợi. Bính Đinh thuộc Hỏa. Tuất Hợi là
của trời (Thiên môn). Hỏa ở trên cao dĩ nhiên đất không sinh dưới thấp nên gọi bằng Ốc
Thượng Thổ. Ốc Thượng Thổ là ngói lợp mái nhà để che sương, tuyết mưa. Muốn thành
ngói, Thổ phải trộn với nước lại đưa vào lò lửa luyện nung. Người mang nạp âm Ốc
Thượng Thổ dù số hay cũng phải trải thiên ma bách triết để thoát thai hoán cốt mới thành
công. Nếu đi con đường dễ thì cái thành công chỉ là thứ thành công chóng tàn dễ vỡ như
hòn ngói chưa nung chín gặp mưa nhanh chóng nát ra.
Bính Tuất, Tuất thuộc Thổ chính vị sức chiến đấu dẻo dai cứng cỏi hơn. Đinh Hợi vì
Hợi thuộc Thủy Thổ khắc Thủy sức đề kháng không khỏe bằng Bính Tuất.
0 Nhận xét